tranh-chap-xuat-khau-lao-dong-1

Tranh chấp trong xuất khẩu lao động là một loại tranh chấp khá phức tạp. Sự phức tạp của các tranh chấp này là do có liên quan đến nhiều bên, gồm bên sử dụng lao động nước ngoài, bên doanh nghiệp cung ứng lao động của Việt Nam.Luật sư tư vấn Luật Lao Động thuộc văn phòng Luật Sư Ánh Sáng Công Lý sẽ giúp bạn nhé.

TỔNG ĐÀI HỖ TRỢ 1900 4545

(Click gọi để được hỗ trợ )

tranh-chap-xuat-khau-lao-dong-1
tranh-chap-xuat-khau-lao-dong-1

Hồ sơ tranh chấp xuất khẩu lao động cần chuẩn bị

Đơn khởi kiện (theo mẫu). 

– Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính).

– Hợp đồng lao động.

– Quyết định chấm dứt HĐ lao động hoặc quyết định sa thải, thông báo cho nghỉ việc;

– Quyết định, biên bản hòa giải của hòa giải viên lao động của cơ quan lao động cấp quận, huyện của Hội đồng hòa giải cấp cơ sở hoặc của hội đồng trọng tài lao động thành phố đối với những trường hợp tranh chấp lao động tập thể;

– Các tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tranh chấp (nếu có);

– Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

– Nếu người sử dụng lao động khởi kiện thì phải nộp thêm các giấy tờ về tư cách pháp lý như: giấy phép đầu tư, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy phép đăng ký kinh doanh, nội quy, quy chế, thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp, giấy ủy quyền nếu người đại diện theo pháp luật không tham gia vụ kiện. Biên bản các cuộc họp xét kỷ luật nếu có;

Lưu ý: Các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc. Các văn bản tài liệu khác nếu nộp bản sao thì phải được xác nhận sao y bản chính.

tranh-chap-xuat-khau-lao-dong-2
tranh-chap-xuat-khau-lao-dong-2

 Qui trình giải quyết:

Lệ phí:

1/ Án phí Lao động bao gồm án lao động sơ thẩm, án phí lao động phúc thẩm.

2/ Mức án phí lao động sơ thẩm đối với các vụ án lao động không có giá ngạch là 200.000 đồng.

Cơ sở pháp lý liên quan đến xuất khẩu lao động

– Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động

– Nghị định 126/2007/NĐ-CP hướng dẫn về Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

– Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 126/2007/NĐ-CP về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

– Bộ luật Lao động của Quốc hội, số 10/2012/QH13

– Nghị định 95/2013

Một số tình huống cụ thể

Cơ sở pháp lý:

Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 72/2006/QH11 của Quốc hội

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13

Nội dung tư vấn:

Tình huống 1

Thưa luật sư, em đang làm việc theo diện xuất khẩu lao động tại Nhật, trước khi đi, công ty X có yêu cầu em nộp 1 số tiền đặt cọc là 3000 USD, vậy hiện tại em có thể ủy quyền cho người thân của mình đến ngân hàng để rút số tiền cọc về được không ạ ?

Trả lời:

Luật người lao động VN đi làm việc tại nước ngoài có quy định :

“Điều 23. Tiền ký quỹ của người lao động

1.Người lao động thỏa thuận với doanh nghiệp dịch vụ về việc ký quỹ theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều này để bảo đảm việc thực hiện Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

2.Người lao động trực tiếp hoặc thông qua doanh nghiệp dịch vụ nộp tiền ký quỹ vào tài khoản riêng được doanh nghiệp mở tại ngân hàng thương mại để giữ tiền ký quỹ của người lao động.

3.Tiền ký quỹ của người lao động được hoàn trả cả gốc và lãi cho người lao động khi thanh lý Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Trường hợp người lao động vi phạm Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tiền ký quỹ của người lao động được doanh nghiệp dịch vụ sử dụng để bù đắp thiệt hại phát sinh do lỗi của người lao động gây ra cho doanh nghiệp; khi sử dụng tiền ký quỹ để bù đắp thiệt hại, nếu tiền ký quỹ không đủ thì người lao động phải nộp bổ sung, nếu còn thừa thì phải trả lại cho người lao động.

4.Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định cụ thể thị trường lao động mà doanh nghiệp dịch vụ được thoả thuận với người lao động về việc nộp tiền ký quỹ; quy định thống nhất trong phạm vi cả nước mức trần tiền ký quỹ của người lao động phù hợp với từng thị trường lao động mà doanh nghiệp dịch vụ được thoả thuận với người lao động về việc nộp tiền ký quỹ; chủ trì phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của người lao động.”

Trước khi đi xuất khẩu lao động người lao động có nghĩa vụ nộp vào tài khoản của công ty môi giới mở tại ngân hàng với mục đích đám bảo người lao động thực hiện hết hợp đồng lao động , số tiền này sẽ được thanh toán khi bạn đảm bảo đủ thời gian làm việc tại nước ngoài mà không gây thiệt hại gì cho chủ doanh nghiệp nước ngoài , vì vậy số tiền này chỉ được thanh toán khi bạn kết thúc HĐLĐ và về nước, hiện tại bạn chưa thể rút số tiền này tại ngân hàng được.

Tình huống 2

Thưa luật sư! Hiện em đang làm việc bên Nhật theo hình thức thực tập sinh, trước khi đi công ty xuất khẩu lao động ở Việt Nam có giữ sổ đỏ và bằng ĐH của em , và hợp đồng 3 năm sau khi về nước thì thanh lý hợp đồng, bây giờ chưa hết 3 năm nhưng em muốn lấy lại sổ đỏ và bằng ĐH thì công ty trả lời là không thể lấy lại phải hết 3 năm mới thanh lý hợp đồng, vậy việc làm này của công ty có phù hợp với quy định của pháp luật không ạ ?

Trả lời:

Cũng như quy định nêu trên tại điều 23 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 72/2006/QH11 của Quốc hội thì việc bạn đi xuất khẩu lao động cần phải được đảm bảo bằng 1 số tiền ký quỹ như đã nêu trên , trong trường hợp bạn chưa có đủ số tiền này thì bạn có thể thế chấp sổ đỏ để đảm bảo cho việc bạn sẽ thực hiện đúng hợp đồng , không bỏ ngang hay gây thiệt hại cho doanh nghiệp nước ngoài nơi bạn làm việc, tuy nhiên việc công ty môi giới giữ bằng tốt nghiệp bản gốc của bạn là trái với quy định của pháp luật, bởi về mặt dân sự bằng tốt nghiệp không được coi là tài sản để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự.

tranh-chap-xuat-khau-lao-dong-3
tranh-chap-xuat-khau-lao-dong-3

Tình huống 3

Chào công ty! em xin hỏi một vấn đề như sau mong công ty giải đáp gíup em Em hiện đang là Thực tập sinh đang thực tập tại Nhật Bản, em bay ngày 1/3/2016 em đi phí hết tất cả 12300$ trong đó phí đơn hàng 7000$ phí ăn học 1300$ phí mô giới 1000$ phí đặt cọc 3000$ Em đi phí rất cao vậy nhưng sang đây lương em rất thấp đc 10-11man/ tháng công ty thì ít việc. Em mới đọc được thông tin là hiện giờ các công ty đang phải trả lại tiền cọc cho TTS em muốn hỏi giờ em muốn lấy lại tiền cọc đó thì phải làm ntn?

Trả lời:

Giả sử , khi được tư vấn sang Nhật Bản làm việc bạn được công ty môi giới việc làm giới thiệu mức lương khi làm việc tại công ty hoặc khi ký kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp Nhật Bản bạn được thỏa thuận một mức lương cao hơn so với mức lương thực tế và khi bạn đi làm việc tại Nhật Bản thì công ty không trả bạn đúng như đã cam kết , vậy trong trường hợp này thì bạn có quyền chấm dứt HĐLĐ và lấy lại tiền đặt cọc bằng việc gửi đơn khiễu nại đến cơ quan có thẩm quyền , bạn có thể tham khảo thủ tục khiếu nại quy định tại điều 17 nghị định 119/2014/NĐCP Quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về khiếu nại, tố cáo.

“Điều 17. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
1. Người đứng đầu tổ chức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình bị khiếu nại.
2. Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với khiếu nại về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng khi người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu theo quy định tại Khoản 1 Điều này hoặc đã hết thời hạn quy định tại Điều 19 Nghị định này mà khiếu nại không được giải quyết.

Tình huống 4

Em đi du học Nhật từ 2013, đến năm 2015 e bị trục xuất về nước với lý do là em ăn cắp đồ trong siêu thị. Toà Nhật xử em 1 năm án treo và cấm cảnh 5 năm. Cho em thời hạn 20 ngày để về nước nhưng em không về mà em lại trốn. Sau đó em lại bị bắt và trục xuất thẳng về nước. Vậy cho em hỏi trường hợp của em liệu còn có khả năng đi sang Nhật bằng cách nào không ạ?

Trả lời:

Theo Điều 24 Luật xuất nhập cảnh của Nhật Bản quy định, người có hành vi sau sẽ áp dụng xử phạt theo quy định của pháp luật và cưỡng chế trục xuất:

1.Thực hiện các hoạt động sai mục đích lưu trú đã được phép: Ví dụ: thực tập sinh đi xuất khẩu lao động Nhật Bản bỏ trốn ra ngoài làm các công việc khác, du học sinh bỏ học trốn ra ngoài làm việc tại các cơ sở sản xuất.

2.Ở quá hạn bất hợp pháp: Ví dụ, thời hạn hợp đồng làm việc là 03 năm nhưng sau khi hết hạn hợp đồng thì thực tập sinh bỏ trốn ra ngoài làm việc, không về nước.

3.Vi phạm luật hình sự: Ví dụ như trộm cắp, giết người, sử dụng & buôn bán ma túy…

4.Vượt biên và nhập cảnh bất hợp pháp vào Nhật Bản.

Đối với những lao động khi đã bị trục xuất khỏi Nhật Bản thì sẽ bị từ chối không được nhập cảnh trở lại Nhật trong khoảng thời gian từ 5-10 năm. Sau khoảng thời gian 5-10 năm, lao động có thể làm thủ tục nhập cảnh vào Nhật Bản.

Về nguyên tắc, bạn vẫn có thể làm thủ tục nhập cảnh sau khoảng thời gian 5 năm. Tuy nhiên, những người bị trục xuất khỏi Nhật Bản thì cơ hội quay lại Nhật rất thấp và hầu như sẽ không thể trở lại đó với bất cứ loại visa nào (ngay cả bạn xin visa đến nước khác cũng vậy bởi vì thông thường bạn sẽ phải trả lời câu hỏi trên đơn xin visa rằng “Bạn có bao giờ bị trục xuất hay không?”).

tranh-chap-xuat-khau-lao-dong-4
tranh-chap-xuat-khau-lao-dong-4

Tình huống 5

Chào anh chị ạ, em đã đóng tiền cho một người ở Hà Nội để đi xuất khẩu lao động Hàn Quốc với số tiền là 15.000$ từ năm 2017 mà họ chưa làm cho em đi được vậy em có thể nộp đơn khởi tố không ạ?

Do thông tin cung cấp chưa đầy đủ nên:

Trường hợp 1:

Người nhận tiền này không có khả năng đưa người đi xuất khẩu lao động Hàn Quốc nhưng đã sử dụng các thủ đoạn gian dối để tin tưởng dẫn đến việc chuyển tiển cho người này thì hành vi của người này có dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Trường hợp này có quyền làm đơn đến cơ quan công an để tố giác hành vi của đối tượng này và yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật.

Trường hợp 2:

Người này có khả năng đưa người đi xuất khẩu lao động, nhưng sau khi chuyển tiền thì không đưa đi xuất khẩu lao động và cũng đã nhiều lần yêu cầu người này trả tiền nhưng người này không chịu trả thì hành vi này có dấu hiệu của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản – Điều 175 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2017.

Trường hợp này  có thể làm đơn đến cơ quan công an đề tổ giác hành vi của đối tượng này và yêu cầu xử lý đối tường này theo quy định pháp luật.

Trường hợp 3:

Người nhận tiền có khả năng đưa người đi xuất khẩu lao động nhưng trong quá trình làm hồ sơ giấy tờ xảy ra một số vấn đề phát sinh dẫn đến việc không thể sang Hàn Quốc để lao động hoặc người này có khả năng đưa đi xuất khẩu lao đông nhưng lại không thực hiện công việc mà số tiền chuyển người này đã sử dụng hết, hiện không có khả năng hoàn trả lại.

Trường hợp này không có dấu hiệu hình sự mà khi đó cần phải trao đổi thỏa thuận với người này về viêc hoàn trả tiền, nếu không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi người này cư trú để yêu cầu hoàn trả tiền.

Bạn cần thêm sự hỗ trợ gì về tranh chấp xuất khẩu lao động, hãy liên hệ đội ngũ Luật sư tư vấn Luật Ánh Sáng Công Lý nhé. Tổng đài tư vấn luật online bạn có thể liên lạc

TỔNG ĐÀI HỖ TRỢ 1900 4545

(Click gọi để được hỗ trợ )

Similar Posts

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *